Các ngân hàng đồng loạt tăng lãi suất, liệu chính sách tiền tệ có đảo chiều?
Đồng loạt các ngân hàng liên tục có động thái tăng lãi suất, liệu chính sách tiền tệ có đảo chiều như 2022?
Từ đầu Q3/2025, đồng loạt các ngân hàng liên tục có động thái tăng lãi suất, đưa mặt bằng lãi suất 12T trung bình tăng lên ~6%/năm. Hoạt động cho vay đang được kiểm soát chặt chẽ hơn, việc vay ngân hàng không còn dễ dàng như trước. Động thái này khiến nhiều nhà đầu tư lo ngại: liệu đây có phải tín hiệu cho thấy chính sách tiền tệ đang đảo chiều, từ nới lỏng sang thắt chặt - tương tự giai đoạn 2022 khi lãi suất tăng, chính sách đảo chiều và thị trường chứng khoán rơi vào nhịp điều chỉnh sâu?Thực tế, việc tăng lãi suất lần này không phải dấu hiệu siết chặt, mà chỉ là phản ứng tự nhiên của hệ thống ngân hàng trước sức nóng của tăng trưởng tín dụng.
![]() |
| Ảnh: finbox |
Từ đầu năm 2025 đến nay, tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống đã đạt 15.9%, mức cao nhất trong 10 năm ở cùng kỳ. Một số ngân hàng như MBBank (19,9%), VPBank (>18%) hay Techcombank (17%) đã gần chạm trần room tín dụng được NHNN cấp. Ngày 16/10, NHNN đã họp với các ngân hàng thương mại và cho phép một số đơn vị được ứng trước 35% room tín dụng của năm 2026 (như MBBank) - phần còn lại vẫn phải “tự bơi” bằng cách tăng lãi suất để hút vốn.
Trong khi đó, tốc độ huy động toàn hệ thống mới chỉ tăng ~10% từ đầu năm - chậm hơn nhiều so với tốc độ cho vay. Đặc biệt trong Q3, nhiều ngân hàng còn ghi nhận lượng tiền gửi giảm cho thấy xu hướng dòng tiền rút ra khỏi hệ thống ngân hàng. Điều này là dễ hiểu do lãi suất thấp - dòng tiền nhàn rỗi sẽ có xu hướng tìm tới các tài sản sinh lời cao hơn như vàng, chứng khoán, BĐS,...
Tình trạng này kéo dài đặt áp lực lên thanh khoản của các ngân hàng. Tỷ lệ cho vay trên huy động của các ngân hàng lớn đều tiệm cận 85-90%. Tức là khi huy động được 10 đồng, họ đã đem 8.5 đồng đi cho vay. Thậm chí tỷ lệ này ở VPBank còn vượt 100% - tức cho vay nhiều hơn số vốn huy động được, cho thấy nguồn cung không đủ đáp ứng nhu cầu vốn đang rất lớn.Nhìn vào những chu kỳ kinh tế tăng trưởng trước đây, khi cầu vốn tăng cũng đều kéo theo lãi suất tăng để cân bằng cung cầu tiền. Về bản chất, đây là tín hiệu tích cực cho thấy nền kinh tế đang hấp thụ vốn tốt.
![]() |
| Ảnh: finbox |
Do đó, TĂNG LÃI SUẤT LÀ ĐỘNG THÁI TẤT YẾU để duy trì tăng trưởng của cả nền kinh tế và tránh rủi ro thanh khoản cho hệ thống ngân hàng.Lãi suất tăng không hề đồng nghĩa với chính sách tiền tệ thắt chặt.Việc các ngân hàng thương mại tăng lãi suất huy động chỉ là động thái mang tính nội bộ, chưa đủ để coi là tín hiệu của thắt chặt tiền tệ. Muốn biết chính sách tiền tệ có thay đổi không ta cần nhìn vào động thái của ngân hàng nhà nước (SBV) - cơ quan điều hành chính sách.Hiện tại, SBV vẫn duy trì lãi suất điều hành quanh 4,5%/năm - mức thấp nhất trong gần 10 năm. Từ đầu năm tới nay, SBV cũng chưa thực hiện đợt hút ròng hoặc phát hành tín phiếu quy mô lớn nào.
Gần nhất vào T6/2025, SBV có phát hành tín phiếu để hút ròng nhưng chỉ với quy mô nhỏ (3.100 tỷ đồng), kỳ hạn ngắn (7 ngày), chủ yếu chỉ nhằm ứng phó đà tăng tỷ giá USD/VND trong ngắn hạn. Sau đó, SBV vẫn tiếp tục cung ứng các khoản cho vay cầm cố giấy tờ có giá (OMO) để bơm ròng ra thị trường. Từ 3-7/11, NHNN đẩy mạnh bơm ròng 56.474 tỷ đồng, nâng lượng tiền được bơm vào kênh OMO lập kỷ lục hơn 280k tỷ đồng. Tất cả động thái của SBV đều cho thấy CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ VẪN ĐANG ĐƯỢC NỚI LỎNG
Trong ngắn hạn, xu hướng chính sách tiền tệ nới lỏng vẫn sẽ được duy trì nhờ bối cảnh vĩ mô thuận lợi.So với thời điểm năm 2022 - lần gần nhất chính sách tiền tệ của Việt Nam chứng kiến sự đảo chiều từ nới lỏng sang thắt chặt, bối cảnh vĩ mô năm 2025 đang có khác biệt lớn. Dù lãi suất đều tăng nhưng bản chất mức tăng trong 2025 mới chỉ khoảng 1%, mặt bằng chung vẫn thấp hơn nhiều so với mức tăng lãi suất gấp 3 lần của 2022.
Bối cảnh vĩ mô thế giới cũng khác hoàn toàn khi giá dầu toàn cầu thấp - quanh mức 60-65 USD/thùng (giảm 60% từ đỉnh 2022); FED đã có 2 đợt hạ lãi suất tổng 50 điểm cơ bản; nhiều ngân hàng trung ương lớn cũng hạ lãi suất - tạo môi trường lãi suất toàn cầu luận lợi cho chính sách tiền tệ nới lỏng của Việt Nam. Trong bối cảnh này, khả năng chính sách đảo chiều như 2022 là gần như không thể, nhất là khi chính phủ đang rất quyết tâm với mục tiêu tăng trưởng GDP 8-8.5% năm 2025 và dự kiến mục tiêu tăng trưởng 10% cho 2026.Ẩn số lớn nhất có thể khiến chính sách tiền tệ điều chỉnh là LẠM PHÁT.
Nhìn bề ngoài, có vẻ lạm phát vẫn đang được kiểm soát tốt khi chỉ số giá tiêu dùng (CPI) trung bình 9 tháng đầu năm tăng 3,27% YoY - thấp hơn ngưỡng mục tiêu 4-4,5% của Chính phủ. Tuy nhiên, thực tế lạm phát đang âm thầm tích tụ. Trừ giá xăng dầu vẫn duy trì mức thấp, giá điện, chi phí thuê nhà và dịch vụ ăn uống đã tăng 10-30% tùy khu vực; chỉ riêng tỷ giá USD/VND tăng 3,8% đã khiến giá nguyên vật liệu nhập khẩu leo thang tương ứng.
Điều đó cho thấy lạm phát “ngầm” có thể đã vượt xa con số thống kê, bởi rổ hàng hóa CPI hiện hành vẫn dựa trên cấu trúc tiêu dùng năm 2020 và chưa cập nhật các xu hướng chi tiêu mới như logistics, công nghệ, nền tảng số hay thương mại điện tử.Như vậy, chính sách tiền tệ nới lỏng vẫn đang giúp duy trì tăng trưởng ngắn hạn, nhưng nó đánh đổi bằng áp lực lạm phát tương lai. Khi lạm phát thực tế tiếp tục tăng nhanh hơn dữ liệu công bố, NHNN buộc phải cân nhắc lại chính sách để tránh rủi ro “quá nhiệt”.
Thời điểm năm 2026 được xem là mốc cần lưu ý, vì khi đó Việt Nam sẽ cập nhật lại công thức cho rổ hàng hóa CPI mới sau chu kỳ 5 năm, phản ánh đúng hơn chi phí sinh hoạt và sức mua thực tế. Một khi chỉ số CPI mới “bắt kịp” đời sống, con số lạm phát có thể bật lên rõ rệt - và đó sẽ là trọng số quyết định lớn nhất khiến SBV có thể điều chỉnh chính sách từ “nới lỏng” sang “trung lập” để kiềm chế giá cả và ổn định kỳ vọng thị trường.
Tóm lại, trong ngắn hạn XU HƯỚNG CHÍNH SÁCH TIỀN TỆ CỦA VIỆT NAM VẪN LÀ NỚI LỎNG VÀ VIỆC TĂNG LÃI SUẤT LÀ ĐỘNG THÁI TẤT YẾU để duy trì tăng trưởng. Mặc dù lãi suất tăng sẽ gây áp lực chi phí tài chính cho các nhóm ngành phụ thuộc nhiều vào nợ vay nhưng cũng sẽ hỗ trợ cho các nhóm tài chính có tiền gửi lớn như nhóm Bảo hiểm. Điều quan trọng nhất là mức lãi suất không thấp cùng sự điều tiết lãi suất hợp lý sẽ hạn chế tiền kéo đến các kênh đầu tư ăn chênh lệch lợi suất, đưa dòng tiền quay trở lại sản xuất - doanh nghiệp thật sự làm ăn - đó mới là sự tăng trưởng mà nền kinh tế cần có.
Theo: Finbox
Từ khóa:
Thị trường Việt Nam

